Hướng tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, phóng viên Báo Nông nghiệp và Môi trường đã có cuộc trao đổi với TS Đào Xuân Học, nguyên Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT, Chủ tịch Hội Thủy lợi Việt Nam về vai trò, định hướng và những giải pháp trọng tâm của lĩnh vực thủy lợi trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

GS.TS Đào Xuân Học trao đổi về vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước trong giai đoạn mới. Ảnh: Hà Trang
Nhìn lại nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, thiên tai diễn biến bất thường, theo ông, năng lực ứng phó của ngành nông nghiệp và môi trường, đặc biệt là lĩnh vực thủy lợi và quản lý tài nguyên nước, đã có những chuyển biến nổi bật nào? Những chuyển biến đó có ý nghĩa ra sao đối với ổn định kinh tế - xã hội và đời sống người dân?
- Có thể khẳng định, trong những năm gần đây, biến đổi khí hậu đã làm cho thời tiết chuyển sang trạng thái cực đoan rõ rệt, với nhiều hiện tượng vượt ngưỡng lịch sử: mưa lớn bất thường, lũ lên nhanh và cao hơn trước, nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn sâu, thiếu nước cục bộ ở nhiều vùng. Những tác động này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản mà còn đe dọa nghiêm trọng đến an toàn tính mạng, tài sản của người dân.
Thiệt hại do thiên tai những năm vừa qua là rất lớn, điều đó cần nhìn thẳng và đánh giá đúng. Tuy nhiên, nếu so với các giai đoạn trước, có thể thấy rõ năng lực ứng phó của chúng ta đã được nâng lên đáng kể. Thực tế đã có những đợt lũ với mực nước cao hơn lịch sử, nước tràn qua đê nhưng đê vẫn giữ được an toàn, không bị vỡ. Đây không phải là may mắn ngẫu nhiên, mà là kết quả của quá trình đầu tư bền bỉ của Nhà nước cho hệ thống đê điều, công trình thủy lợi, cũng như công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng thường xuyên.
Quan trọng hơn, đó là sự trưởng thành của đội ngũ cán bộ kỹ thuật, lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ tại hiện trường. Khi thiên tai ngày càng “khốc liệt” hơn, chỉ cần một khâu lỏng lẻo cũng có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng. Việc hệ thống vẫn đứng vững cho thấy năng lực tổ chức, điều hành và con người đã có bước tiến rõ rệt, góp phần giữ vững ổn định kinh tế - xã hội, giảm thiểu tổn thất và bảo vệ đời sống nhân dân.
Một điểm đáng trân trọng nữa là truyền thống khắc phục hậu quả thiên tai rất nhanh của Việt Nam. Ở bất kỳ giai đoạn nào, sau thiên tai, với sự lãnh đạo của Đảng, sự vào cuộc của Nhà nước, chính quyền các cấp và tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng, nhiều địa phương đã nhanh chóng phục hồi sản xuất, ổn định đời sống. Tuy nhiên, phòng tránh thiên tai không thể chỉ mạnh ở khâu “sau thiên tai”. Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải chuyển mạnh sang tư duy phòng ngừa, chuẩn bị và ứng phó chủ động ngay từ trước và trong quá trình thiên tai xảy ra.
Hướng tới Đại hội XIV của Đảng, mục tiêu phát triển bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người được đặt lên hàng đầu. Theo ông, vai trò của thủy lợi và quản lý tài nguyên nước cần được nhìn nhận như thế nào để đáp ứng yêu cầu phát triển mới của đất nước?
- Nếu nhìn lại lịch sử phát triển của dân tộc, có thể thấy đê điều và thủy lợi luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Từ thời dựng nước đến nay, chưa có giai đoạn nào chúng ta không bàn đến chuyện làm đê, trị thủy. Nước gắn trực tiếp với sản xuất, với an sinh xã hội và sự ổn định của quốc gia. Khi đê điều vững chắc, sản xuất thuận lợi; ngược lại, vỡ đê, mất nước hay lũ lớn đều kéo theo những tổn thất rất nặng nề.
Trong bối cảnh hiện nay, khi biến đổi khí hậu và thời tiết cực đoan trở thành “trạng thái bình thường mới”, vai trò đó càng trở nên nổi bật. Phần lớn các loại thiên tai ở Việt Nam đều liên quan đến nước, từ lũ lụt, hạn hán, xâm nhập mặn đến sạt lở. Vì vậy, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước phải được xác định là một trong những trụ cột quan trọng để thực hiện các mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng hướng tới, đặc biệt là bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh lương thực và sinh kế bền vững cho người dân.
Việc Đảng và Chính phủ quyết định thống nhất quản lý nhà nước về nước là một bước đột phá rất quan trọng, tạo tiền đề cho điều hành đồng bộ, tránh phân tán. Tuy nhiên, đây mới chỉ là khởi đầu. Thực tiễn đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện thể chế, phương thức quản lý theo hướng tiếp cận tổng thể lưu vực, từ thượng nguồn đến hạ du, từ lòng sông đến hệ thống đê điều, hồ chứa. Có như vậy, thủy lợi và quản lý tài nguyên nước mới thực sự phát huy vai trò nền tảng trong chiến lược phát triển bền vững của đất nước.
Vậy theo ông, yếu tố nào mang tính quyết định để thủy lợi và quản lý tài nguyên nước thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng nhằm thực hiện các mục tiêu lớn mà Đại hội XIV của Đảng hướng tới?
- Theo tôi, xét ở tầm quốc gia nói chung và đối với lĩnh vực thủy lợi, quản lý nước nói riêng, có ba yếu tố mang tính quyết định.
Thứ nhất là thể chế và tổ chức bộ máy. Đây là yếu tố then chốt trong giai đoạn hiện nay. Việc quản lý nước đã được đưa về một mối là rất đúng đắn, nhưng nếu trong thực thi vẫn tồn tại tư duy cục bộ, chia cắt giữa các lĩnh vực, thì hiệu quả sẽ không cao. Hiện nay, trong công tác quy hoạch thủy lợi, tình trạng nhiều đơn vị cùng quản lý một con sông nhưng vận hành song hành theo hai “đường ray” khác nhau không chỉ gây lãng phí nguồn lực mà còn tiềm ẩn nhiều rủi ro trong công tác quản trị. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong quản lý.
Thứ hai là nguồn nhân lực. Công trình dù hiện đại đến đâu cũng cần con người vận hành, kiểm tra, duy tu. Đội ngũ làm công tác thủy lợi, quản lý nước và phòng chống thiên tai phải có trình độ chuyên môn vững, kỹ năng thực hành tốt và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm cao. Trong bối cảnh yêu cầu nhiệm vụ ngày càng lớn, việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ là yêu cầu không thể trì hoãn.
Thứ ba là hạ tầng kỹ thuật. Nhiều hồ chứa, đập đất, hệ thống đê điều của chúng ta được xây dựng từ vài chục năm trước, trong khi điều kiện mưa lũ hiện nay đã thay đổi rất nhiều. Do đó, cần tổng rà soát, đánh giá lại mức độ an toàn, khả năng thoát lũ, nhất là ở các vùng hạ du đang chịu áp lực lớn từ đô thị hóa và phát triển hạ tầng.
Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng, đầu tư hạ tầng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng thể chế thông suốt và con người đủ năng lực. Khi ba yếu tố này được kết hợp hài hòa, chúng ta mới có thể triển khai thành công một chiến lược tổng thể về thủy lợi và quản lý tài nguyên nước, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội XIV của Đảng đề ra, bảo đảm an ninh nguồn nước, an sinh xã hội và phát triển bền vững đất nước trong giai đoạn mới.
Xin cảm ơn ông!
Thu Trang (thực hiện) - Theo mae.gov.vn